Trung tâm Năng suất Việt Nam
Đang tải dữ liệu...


Quản lý chất lượng
ISO 9000
ISO/TS 16949
ISO 13485
Quản lý môi trường
ISO 14000
An toàn sức khỏe nghề nghiệp
OHSAS 18001
ISO 26000/SA 8000
Quản lý an toàn thực phẩm
ISO 22000
HACCP
GMP
Quản lý phòng thí nghiệm
ISO/IEC 17025
ISO 15189
Quản lý an toàn thông tin
ISO/IEC 27000
Công cụ cải tiến năng suất chất lượng
Công cụ cải tiến 5S
Duy trì năng suất tổng thể - TPM
Quản lý chất lượng toàn diện - TQM
Công cụ cải tiến Kaizen
Kiểm soát quá trình bằng kỹ thuật thống kê - SPC
Đo lường năng suất tại doanh nghiệp
Six Sigma
Nhóm kiểm soát chất lượng - QCC
Hệ thống quản lý quan hệ khách hàng CRM
Quản lý tri thức - KM
Hệ thống giảm thiểu lãng phí – TPS/Lean
Hệ thống đánh giá hiệu quả công việc nhân viên
Khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên
Dự án
Chương trình - dự án điểm
Chương trình - Dự Án APO

Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO/TS 16949: 2000 trong ngành sản xuất ô tô

I. Giới thiệu yêu cầu của thị trường:

Công nghiệp sản xuất ô tô là một trong những ngành công nghiệp tiên phong trên thế giới tìm kiếm các giải pháp tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ngay cả trước khi Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 ra đời năm 1987.

Họat động sản xuất ô tô ngày nay không còn giới hạn trong phạm vi quốc gia. Một nhà sản xuất các phụ tùng ô tô rất nhỏ vẫn có thể sản xuất hàng lọat, số lượng rất lớn và xuất khẩu để lắp ráp tại khắp nơi trên thế giới. Các sản phẩm đầu vào của các nhà sản xuất ô tô xe máy vì vậy trở nên vô cùng đa dạng, chi tiết, bao gồm nhiều chủng lọai. Mỗi nhà cung ứng có thể phục vụ nhiều nhà sản xuất và ngược lại mỗi nhà sản xuất sử dụng nhiều nhà cung ứng tại nhiều nơi và qua nhiều tầng. Hơn nữa các yếu tố về mẫu mã, văn hóa, vị trí địa lý và quy định pháp luật cũng góp phần ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm ô tô, xe máy.

Hơn nữa các công ty sản xuất ô tô tên tuổi đều có những yêu cầu nghiêm ngặt đối với tất cả các nhà cung ứng. Họ phải:

Công nghiệp sản xuất ô tô là một trong những ngành công nghiệp tiên phong trên thế giới tìm kiếm các giải pháp tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ngay cả trước khi Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 ra đời năm 1987.

Họat động sản xuất ô tô ngày nay không còn giới hạn trong phạm vi quốc gia. Một nhà sản xuất các phụ tùng ô tô rất nhỏ vẫn có thể sản xuất hàng lọat, số lượng rất lớn và xuất khẩu để lắp ráp tại khắp nơi trên thế giới. Các sản phẩm đầu vào của các nhà sản xuất ô tô xe máy vì vậy trở nên vô cùng đa dạng, chi tiết, bao gồm nhiều chủng lọai. Mỗi nhà cung ứng có thể phục vụ nhiều nhà sản xuất và ngược lại mỗi nhà sản xuất sử dụng nhiều nhà cung ứng tại nhiều nơi và qua nhiều tầng. Hơn nữa các yếu tố về mẫu mã, văn hóa, vị trí địa lý và quy định pháp luật cũng góp phần ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm ô tô, xe máy.

Hơn nữa các công ty sản xuất ô tô tên tuổi đều có những yêu cầu nghiêm ngặt đối với tất cả các nhà cung ứng. Họ phải:

  • Đảm bảo chất lượng đã cam kết! (ISO 9000)
  • Cùng hoạch định kế hoạch sản xuất đúng tiến độ, đúng số lượng cho từng chủng loại sản phẩm của khách hàng.
  • Hoạch định về chất lượng cùng theo yêu cầu của khách hàng (APQP – Advanced product quality planning)
  • Giao hàng đúng hẹn 100% - theo dõi cả chi phí phát sinh (premium freight)
  • Tuân theo từng buớc nghiêm ngặt trong yêu cầu phê duyệt sản phẩm (PPAP – Production part approval process)
  • Phân tích các mối nguy tiềm năng (FMEA – Failure Mode Effect Analisys) của sản phẩm của mình
  • Phải tiến hành phân tích sai số trong các dụng cụ đo ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm (MSA – Measuring System Analisys) và nếu có phòng thí nghiệm phải tuân theo ISO 17025
  • Sử dụng bắt buộc SPC (Statistical Process Control) và phải tính được hệ số khả năng của quá trình trước khi sản xuất hàng loại

Trong khi sự ra đời của ISO 9000 gồm các nguyên tắc quản lý chất lượng chung có thể áp dụng cho nhiều lọai hình họat động, công nghiệp sản xuất ô tô xe máy, với những đặc điểm riêng có kể trên, rất cần các tiêu chuẩn riêng của ngành nhằm đáp ứng nhu cầu đảm bảo chất lượng và an tòan ngày càng cao. Chính nhu cầu này dẫn đến sự ra đời của các Bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng trong ngành ô tô xe máy với phiên bản mới nhất là ISO/TS 16949: 2002.

ISO/TS 16949 là bộ tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở kết hợp các yêu cầu hệ thống quản lý chất lượng của Bộ tiêu chuẩn ISO 9000, đồng thời hướng dẫn thêm và chi tiết hơn các yêu cầu kỹ thuật áp dụng riêng cho các nhà sản xuất ô tô, xe máy và các phụ tùng thay thế có liên quan.

Tại Việt Nam, thị trường sản xuất ô tô xe máy hiện đang tăng trưởng khá nhanh. Với 11 liên doanh lắp ráp ô tô, xe máy, mức tiêu thụ trong nước năm 2002 khỏang 26.000 chiếc và năm 2003 là 38.000 chiếc, tăng khỏang 35%. Tốc độ nội địa hóa sản phẩm ngày càng được nâng cao. Hiện nay TOYOTA đang dẫn đầu với tỷ lệ đạt 13%. Theo lộ trình do Bộ Công nghiệp đưa ra, tỷ lệ nội địa hóa đến năm 2006 đạt 25%.

Như vậy việc áp dụng các Bộ tiêu chuẩn ngành ô tô xe máy tại Việt Nam có vai trò rất lớn trong chương trình “nội địa hóa” sản phẩm ô tô xe máy nói trên.

II. Quá trình phát triển của các tiêu chuẩn quản lý chất lượng trong ngành ô tô xe máy

Năm 1994, ba nhà sản xuất ô tô hàng đầu thế giới là Chrysler, Ford và General Motors đã cùng xây dựng Bộ tiêu chuẩn QS9000 trên cơ sở ISO 9000. QS 9000 xác định các tiêu chuẩn chất lượng cơ bản áp dụng chung cho ba “đại gia” này. Ngày nay, có trên 14,000 nhà sản xuất, cung ứng phụ tùng, nguyên vật liệu ngành ô tô và các dịch vụ khác có liên quan trên thế giới đạt chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn QS9000. Với các nhà cung ứng, việc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn này không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, quá trình đánh giá và chứng nhận đơn thuần góp phần quản lý hiệu quả chi phí theo yêu cầu của các “đại gia” sản xuất ô tô mà còn góp phần tạo niềm tin nơi chính người tiêu dùng sản phẩm này.

Tương tự các tiêu chuẩn VDA 6 (Đưc), AVSQ'94 (Ý) và TE 9000 (Công cụ và thiết bị) – một văn bản hướng dẫn dựa trên QS 9000 được áp dụng tại trên 40.000 nhà sản xuất trên tòan thế giới

Xuất phát từ thành công của các bộ tiêu chuẩn nói trên và đáp ứng nhu cầu một tiêu chuẩn chất lượng chung, được công nhận trên tòan thế giới cho các nhà sản xuất ô tô và phụ tùng, năm 1996, IATF (International Automotive Task Force) được thành lập để thực hiện nhiệm vụ này. Sứ mệnh của IATF là xây dựng tài liệu hệ thống quản lý chất lượng nhất quán cho ngành sản xuất ô tô, thiết lập hệ thống công nhận tòan cầu và hỗ trợ đào tạo cho các nhà cung ứng yêu cầu đánh giá chứng nhận bên thứ ba.

Với sự cộng tác của Tổ chức Tiêu chuẩn hĩa quốc tế (ISO) và nỗ lực của IATF, Bộ tiêu chuẩn ISO/TS 16949 đã ra đời. Tiêu chuẩn này được IATF giới thiệu qua hệ thống các văn phòng liên lạc chính thức tại các quốc gia thành viên gồm: the International Automotive Oversight Bureau (IAOB) tại Mỹ, CCFA tại Pháp, ANFIA tại Ýù, VDA tại Đức, và SMMT (Society of Motor Manufacture and Trade) tại Anh.

Tiêu chuẩn ISO/TS 16949 gồm các yêu cầu kỹ thuật dựa trên cơ sở tiêu chuẩn ISO 9000 áp dụng riêng cho ngành sản xuất ô tô nhưng chưa thay thế hòan tòan các tiêu chuẩn hiện hành như QS9000, VDA 6.1, và AVSQ. Phiên bản 2002 của tiêu chuẩn ISO/TS 16949 xây dựng trên cơ sở ISO 9001 phiên bản 2000.

Nguyên tắc đánh giá chứng nhận cơ bản theo ISO/TS 16949 gồm các yêu cầu tiêu chuẩn, yêu cầu cụ thể của khách hàng và hệ thống chất lượng của doanh nghiệp.

III. Đối tượng áp dụng ISO/TS 16949 gồm:

  • Các nhà cung ứng của các nhà sản xuất đang áp dụng TS 16949 (VD: các nhà cung ứng của Ford, GM, Mercedes Benz...)
  • Các doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm, phụ tùng ngành ô tô
  • Các nhà cung ứng tiềm năng của các đối tượng 1 và 2 nêu trên, đã họac đang nằm trng danh sách nhận RFQ

Các doanh nghiệp không tham gia vào quá trình sản xuất tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm ô tô, xe máy (VD trung tâm thiết kế, nhà phân phối) không nằm trong phạm vi áp dụng ISo/TS 16949.

Như trên đã trình bày ISO/TS 16949 hiện chưa thay thế hòan tòan các tiêu chuẩn QS 9000, VDA 6.1, v.v... ISO/TS 16949 cung cấp thêm cho nhà cung ứng một sự chọn lựa. Một số tổ chức vẫn chọn áp dụng các tiêu chuẩn hiện hành, một số khác chọn lựa chuyển đổi hệ thống phù hợp ISO/TS vì họ nhận ra các lợi ích có thể đạt được thông qua phương pháp tiếp cận quá trình và thỏa mãn hơn nữa các nhu cầu của khách hàng (VD. Trường hợp một doanh nghiệp có khách hàng yêu càu tiêu chuẩn QS 9000 và một khách hàng khác yêu cầu tiêu chuẩn VDA 6.1, có thể họ sẽ thỏa mãn cả hai khách hàng nói trên nếu họ áp dụng ISO/TS 16949, với sự đồng tình của cả hai khách hàng).

Hơn nữa nhiều yếu tố khác làm cho Tiêu chuẩn ISO/TS 16949 trở nên thuận tiện hơn. Trước hết, các chứng nhận ISO 9001/2:1994 vốn là cơ sở tham chiếu của QS 9000, không còn hiệu lực nữa tính đến tháng 12, 2003. Nghĩa là các chứng nhận QS 9000 sau tháng 12, 2003 không thể tham chiếu đến ISO 9001:2000. Hơn nữa QS 9000 sẽ không được tái bản và kết thúc ngày 14 / 12 / 2006. Khi các doanh nghiệp có nhu cầu chứng nhận ISO buộc phải chuyển đổi hệ thống phù hợp ISO 9001:2000, sẽ phát sinh các tài liệu trùng lắp giữa hai hệ thống mà không còn nghi ngờ gì về sự gia tăng chi phí để duy trì sự trùng lắp này.

Vấn đề đáng quan tâm của các nhà cung ứng là lịch chuyển đổi hệ thống phù hợp ISo/TS 16949 mới được các nhà sản xuất ô tô công bố gần đây:

Khách hàng

Hạn chuyển đổi theo ISO/ TS 16949

Ford Motor Company

14/12/2006

General Motors

14/12/2006

DaimlerChrysler

1/7/ 2004

Renault

1/7/ 2004

PSA - Peugeot Citroen

1/7/ 2004

TRW Automotive

1/7/ 2006

Visteon

1/7/ 2005

IV. Nội dung cơ bản của tiêu chuẩn ISO/TS 16949:2002

Trên cơ sở Bộ tiêu chuẩn ISO 9000, ISO/TS 16949: 2002 hướng dẫn chi tiết các yêu cầu kỹ thuật với các nhà cung ứng ngành sản xuất ô tô. Nội dung chính gồm các điều khỏan:

1. Phạm vi

2. Tiêu chuẩn tham chiếu

3. Từ vựng và định nghĩa

4. Các yêu cầu của HTQLCL

4.2.3.1 Kiểm soát bản vẽ kỹ thuật

4.2.4.1 Thời gian lưu giữ hồ sơ

5. Trách nhiệm lãnh đạo

5.1.1 Tổ chức theo quy trình

5.3.1 Yêu cầu thêm về chính sách chất lượng

5.4.1.1 Yêu cầu thêm về mục tiêu chất lượng

5.5.1.1 Trách nhiệm về chất lượng

5.5.2.1 Đại diện khách hàng

6. Quản lý nguồn lực

Kỹ năng thiết kế sản phẩm

Đào tạo

Đào tạo tại chỗ

Thuyên chuyển, ủy quyền và thỏa mãn nhân viên

6.3.1 Họach định thiết bị và nhà xưởng

6.3.2 Kế họach ứng phó

6.4.1 An tòan

6.4.2 Vệ sinh nhà xưởng

7. Tạo sản phẩm

7.1.1 Yêu cầu về hệ thống kế họach chất lượng

7.1.2 Kiểm sóat thay đổi

7.2.1 Xác định các yêu cầu đối với sản phẩm

7.2.1.2 Các đặc tính đặc biệt của khách hàng

7.2.2.2 Khả năng sản xuất

7.3.1.1 Tiếp cận đa chức năng

7.4.1.1 Phù hợp yêu cầu luật pháp

7.4.1.2 Phát triển HTQLCL của các nhà cung ứng

7.4.1.3 Nguồn được khách hàng chấp thuận

7.5.1.1 Kế họach kiểm sóat

7.5.1.2 Hướng dẫn công việc

7.5.1.3 Kiểm tra thiết bị công việc

7.5.1.4 Bảo dưỡng, phòng ngừa và trù bị

7.5.1.5 Quản lý dụng cụ

7.5.1.6 Lập kế họach sản xuất

7.5.1.7 Phản hồi dịch vụ

7.5.1.8 Thỏa thuận dịch vụ với khách hàng

7.5.4.1 Dụng cụ của khách hàng

7.5.6.1 Lưu kho và kiểm kho

7.6.1 Phân tích đo lường

7.6.2 Hồ sơ hiệu chuẩn

7.6.3 Yêu cầu về phòng thí nghiệm

7.6.3.1 Phòng thí nghiệm nội bộ

7.6.3.2 Phòng thí nghiệm bên ngoài

8. Đo lường, phân tích và cải tiến

8.1.1 Nhận dạng các công cụ thống kê

8.1.2 Hiểu biết kiến thức cơ bản về thống kê

8.2.1.1 Yêu cầu thêm về thỏa mãn các khách hàng

8.2.2.1 Kế hoạch đánh giá nội bộ

8.2.2.2 Đánh giá HTQL CL

8.2.2.3 Đánh giá các quá trình sản xuất

8.2.2.4 Đánh giá sản phẩm

8.2.2.5 Phê duyệt chuyên gia đánh giá nội bộ

8.2.3.1 Yêu cầu thêm về đo lường các quá trình

8.2.4.1 Tiêu chí chấp thuận

8.2.4.2 Chất lượng sản phẩm đầu vào

8.2.4.3 Theo dõi nhà cung cấp

8.2.4.4 Kiểm tra bố trí mặt bằng và thử nghiệm chức năng

8.2.4.5 Những chi tiết bề ngoài

8.3.1 Thông tin khách hàng

8.3.2 Kiểm soát sản phẩm làm lại

8.3.3 Ủy quyền của khách hàng

8.5.1.1 Tổ chức hoạt động cải tiến thường xuyên

8.5.1.2 Cải tiến quá trình chế tạo

8.5.2.1 Giải quyết vấn đề

8.5.2.2 Chữa lỗi (mistake proofing)

8.5.2.3 Tác động của hành động khắc phục

8.5.2.4 Thử nghiệm và phân tích hàng trả về

8.5.3.1 Chữa lỗi trong hành động phòng ngừa

V. Quá trình đánh giá chứng nhận theo yêu cầu của IATF chú trọng nhiều hơn vào các yêu cầu khách hàng.

Các nhà sản xuất dễ dàng nhận thấy điều này qua Quy trình hướng đến khách hàng (COP's), gồm:

 Quá trình chủ sở hữu

 Process definition and linkages

 Quy trình giám sát và phản hồi từ khách hàng hướng đến quy trình cải tiến

 Quy trình tăng hiệu quả thỏa mãn nhu cầu khách hàng, quá trình tăng hiệu suất và họat động chính phục vụ sản xuất kinh doanh

Hiệu quả và hiệu suất các quá trình nhận biết sản phẩm và các quá trình phụ trợ phải do Ban lãnh đạo xem xét. Nếu quá trình này thường cũng được yêu cầu đối với các họat động sản xuất khác, thì ở đây họat động giám sát các quá trình phụ trợ được thêm vào trong suốt quy trình như một yêu cầu đặc biệt của ISO/TS 16949.

VI. Lợi ích của chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn ISO/TS 16949 hoặc QS 9000:

Bên cạnh các ích lợi vốn có của ISO 9000, chứng nhận ISO/TS hoặc QS là tối ưu hóa giá trị các cuộc đánh giá chứng nhận:

  • Cải tiến chất lượng sản phẩm và quá trình quông qua họat động
    • Bám sát và cập nhật thường xuyên với các yêu cầu của khách hàng – tăng thỏa mãn khách hàng
    • Hợp lý hoá và tối ưu hóa mặt bằng, dây chuyền sản xuất
    • Đặc thù và phù hợp trong ngành ô tô xe máy để ứng phó với những thay đổi nhanh về môi trường kinh doanh, mẫu mã sản phẩm
  • Mạnh dạn, tin tưởng vào các nguồn cung ứng từ các nơi trên thế giới
  • Yêu cầu các nguồn lực của nhà cung ứng cải tiến chất lượng
  • Giảm thiểu sự khác biệt chất lượng
  • Tăng năng suất
  • Hình thành ngôn ngữ chung để hiểu biết và nâng cao chất lượng, tránh hiểu lầm
  • Cắt giảm chi phí khi các yêu cầu về mục tiêu, kế hoạch, sản phẩm làm lại, giao hàng trễ hẹn được qui định chặt chẽ
  • Là một bước tiến quan trọng hướng đến 6 sigma

Ths. Trịnh Tuấn Dũng, BVQI Việt Nam