Trung tâm Năng suất Việt Nam
Đang tải dữ liệu...


Quản lý chất lượng
ISO 9000
ISO/TS 16949
ISO 13485
Quản lý môi trường
ISO 14000
An toàn sức khỏe nghề nghiệp
OHSAS 18001
ISO 26000/SA 8000
Quản lý an toàn thực phẩm
ISO 22000
HACCP
GMP
Quản lý phòng thí nghiệm
ISO/IEC 17025
ISO 15189
Quản lý an toàn thông tin
ISO/IEC 27000
Công cụ cải tiến năng suất chất lượng
Công cụ cải tiến 5S
Duy trì năng suất tổng thể - TPM
Quản lý chất lượng toàn diện - TQM
Công cụ cải tiến Kaizen
Kiểm soát quá trình bằng kỹ thuật thống kê - SPC
Đo lường năng suất tại doanh nghiệp
Six Sigma
Nhóm kiểm soát chất lượng - QCC
Hệ thống quản lý quan hệ khách hàng CRM
Quản lý tri thức - KM
Hệ thống giảm thiểu lãng phí – TPS/Lean
Hệ thống đánh giá hiệu quả công việc nhân viên
Khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên
Dự án
Chương trình - dự án điểm
Chương trình - Dự Án APO

Các loại nhãn sinh thái và nguyên tắc công bố

Nhãn sinh thái (hay còn gọi là nhãn xanh, nhãn môi trường) có thể được hiểu như là các nhãn mác của sản phẩm, dịch vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về sự thân thiện với môi trường hơn so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại. Nói một cách khác nhãn sinh thái là sự công bố bằng lời hoặc ký hiệu hay sơ đồ nhằm chỉ ra các thuộc tính môi trường của sản phẩm và dịch vụ. Qua đó, người tiêu dùng và khách hàng có nhiều thông tin hơn về các tác động của sản phẩm hoặc dịch vụ đối với môi trường và sức khoẻ con người, và họ ngày càng có nhận thức cao hơn đối với những vấn đề môi trường. Những lý do này làm cho ngày càng có nhiều người tiêu dùng muốn chuyển tải những nhận thức của họ sang sự thay đổi về ý thức mua hang, cái mà người ta vẫn dùng là “người tiêu dùng xanh”. Mục đích của nhãn sinh thái là khuyến khích việc sản xuất và tiêu dùng những sản phẩm thân thiện với môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội gắn với lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là nhãn sinh thái là một lĩnh vực mà các lợi ích kinh tế - môi trường chủ yếu có thể được nhận qua việc khai thác mối quan tâm đến môi trường của người tiêu thụ sản phẩm.

Sự ra đời của nhãn sinh thái có mục đích giúp cho người tiêu dùng nhận biết được những tính năng thân thiện với môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ, để từ đó đưa ra sự lựa chọn của mình. Nếu như sản phẩm được cấp nhãn sinh thái càng ngày càng được nhiều người tiêu dùng lựa chọn thì điều đó chứng tỏ nó đã khuyến khích các công ty thay đổi quá trình công nghệ nhằm đáp ứng được các tiêu chí môi trường và yêu cầu của người tiêu dùng, hay nói một cách khác là đạt được kết quả sản xuất và tiêu dùng bền vững.

Năm 1993, sau khi bộ tiêu chuẩn ISO 9000 (Bộ tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng) đạt được những thành công và được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới, ISO bắt đầu hướng tới lĩnh vực Quản lý môi trường. Cuối cùng, ISO đã thành lập Uỷ ban TC 207 để xây dựng các tiêu chuẩn về quản lý môi trường. Phạm vi cụ thể của TC 207 là tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực các công cụ và hệ thống quản lý môi trường. Công việc của TC 207 được chia ra trong 6 tiểu ban và 1 nhóm làm việc đặc biệt. Canada là ban thư ký của Uỷ ban kỹ thuật TC 207 và 6 quốc gia khác đứng đầu 6 tiểu ban.

Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là một bộ tiêu chuẩn tự nguyện quốc tế chỉ ra các khía cạnh khác nhau của việc quản lý môi trường. Việc tham gia trực tiếp của ISO vào hệ thống quản lý môi trường được nảy sinh từ một quá trình tư vấn tiến hành trong khuôn khổ của Nhóm tư vấn chiến lược về môi trường (SAGE) hình thành năm 1991. Hai mươi quốc gia, 11 tổ chức quốc tế và trên 100 chuyên gia môi trường đã tham gia vào trong việc xác định những yêu cầu cơ bản của cách tiếp cận mới tới những tiêu chuẩn liên quan với môi trường.

Tiêu chuẩn về nhãn sinh thái là nhóm tiêu chuẩn nằm trong bộ tiêu chuẩn ISO 14000. Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO đã xác định mục đích chung của nhãn và các công bố môi trường như sau: “... Thông qua việc trao đổi các thông tin chính xác về môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ, nhằm khuyến khích các đòi hỏi cung cấp những sản phẩm hoặc dịch vụ gây tác động xấu lên môi trường ít nhất và nhờ đó nâng cao tiềm năng đối với việc cải thiện môi trường một cách liên tục theo định hướng thị trường.”

Theo định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế ISO, có thể chia nhãn sinh thái thành 3 loại sau:

- Loại I (ISO 14024): Là chương trình tự nguyện, dựa trên các tiêu chí của bên thứ ba nhằm cấp chứng nhận uỷ quyền sử dụng nhãn môi trường cho các sản phẩm thể hiện được sự thân thiện với môi trường nói chung theo loại hình cụ thể dựa trên việc xem xét chu trình sống của sản phẩm.

- Loại II (ISO 14021): Là sự tự công bố về môi trường mang tính chất thông tin.

- Loại III (ISO 14025): Là chương trình tự nguyện được lượng hoá bằng các dữ liệu về sản phẩm dưới các loại chỉ tiêu do Bên thứ ba có trình độ chuyên môn về sản phẩm định trước và dựa trên sự đánh giá chu trình sống của sản phẩm và được một bên thứ ba có trình độ chuyên môn khác xác nhận.

Điểm chung của cả ba loại này là đều phải tuân thủ các nguyên tắc được nêu trong tiêu chuẩn ISO 14020, trong đó điểm mấu chốt là các thông tin đưa ra phải khoa học, chính xác và dựa trên kết quả của quá trình đánh giá vòng đời sản phẩm, các thủ tục phải không cản trở cho hoạt động thương mại quốc tế. Các nguyên tắc này bao gồm:

  • Công bố môi trường và nhãn minh trường phải chính xác, có thể kiểm tra xác nhận được, thích hợp và không gây hiểu lầm
  • Các thủ tục trong việc công bố, sử dụng, áp dụng không được gây trở ngại trong thương mại quốc tế
  • Việc công bố phải dựa trên phương pháp luận khoa học hoàn chỉnh, tạo kết quả chính xác
  • Thông tin về chuẩn cứ, phương pháp luận để chứng minh nhãn phải sẵn có và cung cấp khi có yêu cầu từ bên hữu quan
  • Tính đến các khía cạnh môi trường liên quan đến chu trình sống của sản phẩm khi công bố
  • Không gây kìm hãm sự đổi mới về việc cải thiện kết quả hoạt động về môi trường
  • Hạn chế tối thiểu các yêu cầu mang tính hành chính hoặc các đòi hỏi không hợp lý trong việc sử dụng nhãn
  • Quá trình xây dựng chuẩn cần có sự tham gia của các bên hữu quan
  • Sẵn có thông tin về khía cạnh môi trường của sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng

Đến nay, Nhãn loại I là loại được áp dụng phổ biến hơn cả, với khoảng trên 40 quốc gia tham gia với các tên gọi khác nhau như: Dấu Xanh (Green Seal) ở Mỹ; Sự lựa chọn Môi trường (Environmental choice), Biểu trưng sinh thái ở Canada, Ôxtrâylia, Niu Di Lân...; Dấu Sinh thái (Ecomark) ở Nhật, Ấn Độ...; Nhãn Xanh (Green Mark/Label) ở EU, Hàn Quốc, Singapo, Thái Lan...
Tại 4 nước dẫn đầu là Mỹ, Canada, Nhật và Hàn Quốc, có khoảng 20 - 30% sản phẩm có hoạt động môi trường tốt nhất được cấp giấy chứng nhận nhãn môi trường loại I.
Tại Việt Nam, khái niệm "Nhãn môi trường" vẫn còn khá xa lạ với người sản xuất và người tiêu dùng.

Về nguyên tắc, nhãn sinh thái tuân thủ phương thức tiếp cận đa tiêu chí và theo chu trình sống của sản phẩm nhằm mục đích thông tin cho người tiêu dùng về việc giảm thiểu một cách thực sự các sức ép về môi trường. Bên cạnh vai trò thông tin cho người tiêu dùng, nhãn sinh thái còn khuyến khích các nhà sản xuất thực hiện các hoạt động môi trường tốt hơn trên cơ sở giảm thiểu các tác động môi trường, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên, giảm tiêu thụ năng lượng, giảm sử dụng tài nguyên thiên nhiên v.v..

Nhãn sinh thái là một trong các biện pháp nhằm thông tin và giáo dục người tiêu dùng về các lợi thế môi trường của sản phẩm, đồng thời có thể tạo ra các áp lực đòi hỏi và khuyến khích đổi mới dẫn tới việc giảm các tác động môi trường trong sản xuất và tiêu thụ.

Nhãn sinh thái là công cụ quản lý môi trường được áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới và không thể phủ nhận tác dụng tích cực trong việc bảo vệ môi trường. Tại Việt nam đã xuất hiện các sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường và có những sản phẩm, dịch vụ có nhu cầu được cấp nhãn sinh thái để quảng bá cho các nỗ lực bảo vệ môi trường của mình. Trong tương lai, nhu cầu công bố các thông tin về môi trường của sản phẩm đối với người tiêu dùng cũng như của các bên liên quan ngày càng tăng, do vây, việc thiết kế, xây dựng và thực hiện chương trình cấp nhãn sinh thái là rất cần thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với doanh nghiệp và xã hội.

Ông Phạm Trường Sơn
Trưởng phòng Môi trường và Phát triển cộng đồng
Trung tâm Năng suất Việt Nam